Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Dấu hiệu chỉ điểm bệnh ở lợi

Chảy máu

Nếu tình cờ phát hiện có máu trong và sau khi đánh răng hoặc sau khi ăn, bạn cần cảnh giác. Chảy máu lợi không rõ nguyên nhân phần to đều báo hiệu bệnh tại lợi và không nên bỏ qua vì đây có thể là dấu hiệu trước nhất của những bệnh hiểm nguy hơn.

Đỏ và sưng lợi

Nhiễm trùng quanh răng khiến lợi sưng và mềm. Tình trạng này có thể gây đau dữ dội và khó chịu. Lợi đỏ, sưng là dấu hiệu của bệnh lợi.

Răng nhạy cảm

Nguyên nhân trước nhất có thể nghĩ đến khi răng Tiến hành bị nhạy cảm là do sâu răng và bạn cần tránh những thực phẩm làm cho tình trạng nhạy cảm này trầm trọng hơn. Nhưng rất có thể răng nhạy cảm là do bệnh lợi chứ không phải do sâu răng và cần được chăm sóc nhiều hơn là chỉ tránh sử dụng một số loại thực phẩm và đồ uống.

Hôi miệng

Nói chung, những người bị hôi miệng thường tránh những thực phẩm đặc biệt mà họ cho là nguyên nhân khiến hơi thở hôi. Tuy nhiên, nguyên do sâu xa của tình trạng này có thể do sự xuất hiện của cao răng, vi khuẩn và những hạt thức ăn đang phân hủy trong miệng gây bệnh nướu.

Tụt lợi và lộ chân răng

Một dấu hiệu rõ rệt của bệnh nha chu là tụt lợi, dẫn đến lộ chân răng. Đây là do nhiễm trùng lợi vì vi khuẩn phá huỷ các mô lợi. Ngoài ra, tụt lợi khiến răng trông như dài hơn. Nếu bạn thấy răng đột ngột trông dài hơn, đó có thể là dấu hiệu bệnh lợi và không nên bỏ qua.

Răng lung lay

Tiêu huỷ mô xương và lợi do bệnh nha chu khiến răng lung lay. Vì mô bị tổn hại, dễ làm răng bị lung lay. Và khoảng cách giữa các răng lớn do răng lung lay.

Nếu thấy bất cứ dấu hiệu bất thường nào, bước trước hết là cần đổi sang loại kem đánh răng có tác dụng bảo vệ lợi với kẽm citrat. Kẽm citrate bảo vệ lợi và giúp giảm chảy máu lợi.

BS Tuyết Mai

Cách sử dụng thuốc dạng xịt hiệu quả

Tôi bị hen suyễn và phải sử dụng thuốc dạng xịt. Xin quý báo giúp tôi hiểu rõ hơn về thuốc dạng này và làm thế nào để dùng thuốc cho đúng? Tôi xin cảm ơn!

Trần Ngọc Hà (Hải Phòng)

Thuốc dạng xịt là thuốc được đưa tới trực tiếp tại niêm mạc (đường hô hấp), cho nên thuốc có tác dụng tại chỗ, nhanh và mạnh, đồng thời giảm thiểu được nồng độ thuốc ngấm về máu nên giảm thiểu được tác dụng phụ có hại toàn thân. Tuy nhiên, đây là thuốc được bào chế tại dạng đặc biệt, nếu dùng không đúng cách, thuốc sẽ bị phóng thích ra ngoài, gây hoang phí lại không đủ liều lượng sử dụng nên không mang lại hiệu quả như mong muốn...

Thuốc dạng xịt hiện nay phổ biến trong điều trị các bệnh tại đường hô hấp như: hen suyễn, các bệnh đặc biệt ở phổi gây khó thở như tràn khí màng phổi, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Các thuốc được sử dụng nhằm giãn phế quản, cắt cơn hen (salbutamol, terbutalin) hay các corticoid chống viêm dùng để điều trị dự phòng hen (beclomethason, budesonid, fluticason)...

Dạng thuốc này được bào chế và chứa trong bình xịt định liều với thiết bị cầm tay, sử dụng lực đẩy để phân bố thuốc. Mỗi lần xịt thì 1 lượng thuốc nhất định được phóng thích. Thuốc được chế tạo để mỗi lần xịt có một lượng thuốc nhất định phóng thích ra. Dạng định lượng này có khả năng cung cấp liều khá chính xác.

Tuy nhiên, dùng bình xịt định liều không dễ. Để sử dụng đúng liều, phát huy được tác dụng của thuốc thì bệnh nhân cần hít thuốc với liều tối đa về hệ hô hấp. Cần có sự phối hợp rất chuẩn xác giữa động tác xịt của tay và động tác hít của miệng.

Dưới đây là cách dùng thuốc dạng xịt, bệnh nhân cần tuân thủ:

Bước 1: Mở nắp bình thuốc.

Bước 2: Cầm bình thuốc thẳng đứng bằng 2 ngón tay, lắc đều bình thuốc 4-5 lần.

Bước 3: Thở ra cho tới lúc không thể thở ra được nữa.

Bước 4: Ngậm kín môi về phần miệng ống của bình xịt. Bắt đầu xịt thuốc và cùng lúc hít vào thật sâu, thật dài.

Bước 5: Nín thở càng lâu càng rất tốt (khoảng 10 giây) để giúp thuốc có thời gian lắng đọng lại ở bề mặt niêm mạc đường thở.

Bước 6: Thở ra chậm và nhẹ nhàng.

Nếu cần xịt thêm thuốc thì làm lại các bước 2-6.

Việc dùng thuốc đúng cách có vai trò đặc biệt quan trọng, bệnh nhân cần tuân thủ hướng dẫn đầy đủ và đúng cách. Nên sử dụng thử ngay trước mặt nhân viên y tế để được khẳng định rằng đã biết cách sử dụng bình xịt.

Nếu bệnh nhân phải sử dụng thuốc dạng xịt có chứa thành phần corticoid, sau mỗi lần xịt thuốc nhớ súc miệng thật kỹ, nếu không có thể bị bệnh nấm họng.

DS. Lan Hương

Bút sinh học

Nhóm chuyên gia ở Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Vật liệu điện tử thuộc Hội đồng Nghiên cứu Australia (ARC) vừa nghiên cứu trở nên công loại bút sinh học (Biopen) để đưa tế bào gốc chính xác về bất cứ nơi nào trong cơ thể để đáp ứng cho phẫu thuật, điều trị sụn bị hư trong các khớp gối hoặc dùng cho các mục đích tái tạo và sửa chữa các mô gốc cũng như nhiều vận dụng khác. Các tế bào gốc dạng dung dịch mực hydrogel (GelMa/HEMA) được đưa về bút. Sau đó, người ta sử dụng tia sáng để đưa chúng vào vị trí đã định, thông qua một nút nhấn trên bút, mọi việc sẽ diễn ra nhanh chóng nhất với độ chính xác cao.

Thí nghiệm tiền lâm sàng cho thấy, các tế bào gốc mỡ người duy trì khả năng tồn ở cao, đạt trên 97%, một tuần sau khi in dùng bút biopen để đưa dung dịch hydrogel GelMa/Hama vào cơ thể.

Duy Hùng

((Theo ICC, 4/2016))

Nguyên nhân gây chảy nước mắt

Dương Mạnh Cường (Hải Dương)

Các tuyến nước mắt nằm tại góc ngoài của mắt, tạo ra những giọt nước mắt khi ta khóc. Ngoài ra còn có những tuyến nước mắt phụ tạo nên một màng nước mỏng cho mắt. Nước mắt cũng còn được tạo ra bởi ống lệ đạo xuất phát từ mắt và đổ về mũi. Chảy nước mắt là khi các tuyến bài tiết làm việc quá nhiều hoặc ống lệ đạo bị tắc khiến nước mắt không thể chảy về mũi. Ống lệ đạo bị viêm cũng gây chảy nước mắt thường xuyên, đôi khi rất khó chữa. Có nhiều tác nhân kích thích mắt như: khói, bụi, dị vật, không khí lạnh, nhiễm khuẩn..., và chảy nước mắt trong những trường hợp này là một cách bảo vệ ở chỗ. Chảy nước mắt do tắc lệ đạo thường do nhiễm khuẩn hay do tình trạng dị ứng mạn tính tại mũi, họng hay các xoang. Nếu bị chảy nước mắt thường xuyên nhiều ngày thì cần hỏi ý kiến bác sĩ chuyên khoa. Để tránh bị chảy nước mắt, bạn nên tránh những nguồn ánh sáng chói chang. Cố gắng chủ động bảo vệ mắt bằng cách tránh bị chói nắng và tác động của tia hồng ngoại, ngay cả khi trời râm mát vẫn cần đeo kính màu.

BS. Nguyễn Thu Hiền

Cuộc rượt đuổi sinh học

Ít người biết tuyến ức. Tiếng Anh thymus có gốc Hy Lạp (thymos) mang suy nghĩ cổ xưa: nơi mà linh hồn cùng ý chí, tình cảm gắn vào. Năm 1961, Miller khám phá được vai trò tuyến ức: trường đào tạo miễn dịch.

Tuyến ức: trường đào tạo miễn dịch

Quá trình khổ luyện. Tuyến ức phối hợp với tủy xương được gọi là cơ quan nguồn của miễn dịch. Các tế bào gốc từ tủy xương di chuyển tới tuyến ức rồi sinh sôi mạnh mẽ tạo ra một quần thể dày đặc các tế bào thymô “vị thành niên” hay là các tế bào Tiền T. Các tế bào thymô phải vào trong tuyến ức để được tôi luyện. Có sự chọn lọc khe khắt. Chỉ có 2% tế bào thymô đủ trình độ để ra trường. 98% kia chết trong “quá trình khổ luyện”. Trưởng thành ra khỏi tuyến ức được mang tên lymphô bào T gọi tắt tế bào T với khả năng chiến đấu thật chuẩn. Thật hay, tuyến ức lọc ra các tế bào tiếp nhân diện được các kháng nguyên bồ nhà trong cơ thể mình, để dung nạp cái gì của mình. Có hai loại: tế bào T loại CD4+ và tế bào T loại CD8+. Tuyến ức phân phối nhiều tế bào T khi đầu đời. Thoái hóa khoảng 3% mỗi năm về thời kỳ trung niên, thích hợp với sự giảm sút các tế bào T.

Khoảng hơn hai mươi hoóc-môn được tuyến ức nhả ra, có năm thứ nhân tố ức chủ lực: Thymôsin alpha 1, Thymôsin bêta 4, Prothymôsin, yếu tố THF và Thymôpolein. Mỗi yếu tố ức lo một công đoạn trong chuỗi trưởng thành tế bào T.

Được nghỉ hưu sớm

Bé mới chào đời thì hệ miễn dịch ngoại vi còn trống trơn phải ứng phó các quan hệ sinh tử ở những ngày tháng đầu đời. Tuyến ức phát triển tới cỡ khi bé chuẩn bị rời lòng mẹ. Trường miễn dịch tuyến ức tích cực đào tạo. Khi các tế bào T học trò đã đủ lông đủ cánh, gồm hai loại tế bào T CD4+ và T CD8+ tuyến ức tung ra khắp nơi. Các tế bào T theo dòng máu tụ tại các cơ quan miễn dịch (hạch lymphô, lá lách). Lúc dậy thì tuyến ức ngừng lớn thậm chí Tiến hành teo sớm hơn. Teo lại theo nhịp 3% mỗi năm cho tới tuổi trung niên (35 - 40 tuổi), rồi xuống nhịp 1%. Tuyến ức như đã lo tròn nhiệm vụ rất sớm. Đúng là Nợ tang bồng trang trắng, vỗ tay reo (thơ Nguyễn Công Trứ). Tuyến ức teo có vẻ là một điều bất lợi cho cơ thể, mà sao thấy tại phần nhiều giống loài có xương sống, chắc là có sức ép tiến hóa đây. Lúc tuổi trẻ, bộ máy miễn dịch còn non, cơ thể phải đổ sức sớm vào cho sự đề kháng. Rồi tới lúc xong phận sự tuyến ức như được nghỉ hưu sớm để nhường chỗ cho các bộ phận khác của cơ thể, đặc biệt hệ sinh dục có chỉ tiêu truyền giống.

Binh chủng mạnh nhất bảo vệ cơ thể

Các tế bào lymphô B và T. Các tế bào bạch cầu trong máu có nhiệm vụ bảo vệ cơ thể. Các tế bào lymphô là một trong năm loại bạch cầu. Tế bào lymphô B gọi tắt là tế bào B vì xuất phát và trưởng thành từ tủy xương (Bone marrow). Tế bào lymphô T gọi tắt là tế bào T, xuất phát từ tế bào Tiền T trong tuỷ xương rồi trưởng thành từ tuyến ức (Thymus).

Hai loại tế bào T. Tế bào T loại CD8+ mang thụ thể là prôtêin CD8+ ngoài mặt, còn gọi là tế bào T sát thủ vì có khả năng hủy diệt mạnh các tế bào nhiễm virút, các tế bào ung thư và cũng dự phần thải bỏ mô ghép. T CD8+ điều hành toàn bộ các tế bào của cơ thể, sẵn sàng tiêu diệt bất cứ kháng nguyên lạ nào. Tế bào T loại CD4+ mang thụ thể là prôtêin CD4+, biệt danh là tế bào T giúp đỡ vì hỗ trợ các loại bạch cầu khác trong nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ cơ thể: thúc đẩy tế bào T “sát thủ” làm việc, giúp tế bào B tiết kháng thể, bảo vệ cơ thể.

Con tạo oái oăm

HIV: virút rêtrô giống lạ. Francoise Barré-Sinoussi và Luc Montagnier tuyên bố bố trên báo Science tháng 5/1983 là họ đã tìm ra thủ phạm gây HIV-AIDS. Đó là một virút rêtrô, giống lạ. Virút gây nhiễm tế bào T, sinh sôi rồi thoát ra ngoài, gây chết các tế bào chủ. Nửa Giải Nobel Y học năm 2008 được trao cho hai người Pháp tìm ra HIV - “tặng vật” của thiên nhiên, hàng hiệu mới toanh.

Kẻ thù không đội trời chung. Virút HIV cứ nhằm tế bào T loại CD4+ mà chui về gây nhiễm. Bệnh nặng lên, số lượng tế bào T CD4+ giảm xuống do các tế bào CD8+ cải thiện không ngừng gặt đi các tế bào CD4+ bị nhiễm, tế bào CD4+ không nhiễm mà vẫn chết hàng loạt, chưa biết tại sao. Khi T CD4+ tụt xuống dưới 400/mm3, sức đề kháng tuột dốc. Giậu đổ bìm leo, các loại virút và các loại nấm tạm trú trong cơ thể lại lừng lên gây các bệnh cơ hội: nhiễm trùng, ung thư. Ở người khỏe mạnh lượng T CD4+ đếm được trong khoảng 500 - 1.200 mm3. Số đếm CD4+ giảm xuống dưới 200 tế bào /mm3 có thể tương thích bệnh tiến tới giai đoạn 3 (bệnh AIDS).

Tế bào T có một bửu bối là thụ thể CD4+, giúp hoạt động miễn dịch. Trớ trêu tế bào T là đích nhắm chính của HIV, y như các đối thủ của đội bóng đá Barcelona cứ bám chặt Lionel Messi. Tương phùng oan nghiệt: HIV có bửu bối riêng kháng nguyên gp120 gắn khớp về CD4+, rồi chui tọt về trong tế bào.

Theo WHO, toàn cầu có 36,9 triệu người đang mang virút HIV vào cuối năm 2014. Cho tới nay có 78 triệu người mắc bệnh, khoảng 39 triệu người đã chết. Vào tháng 6, 2015 có 15,8 triệu người bệnh được điều trị với thuốc ART (kháng virút rêtrô).

Thiên nhiên thử thách. Các nhà khoa học phải vất vả với virút rêtrô này. HIV thiên biến vạn hóa, thay hình đổi dạng nhanh nhạy, lại ra đòn sát thủ tàn phá đúng các tế bào bảo vệ cơ thể con người.

Đầu năm 2015, Bill Gates tỏ ra lạc quan là vắcxin và việc trị khỏi sẽ phát triển thành hiện thực trong 15 năm nữa. Theo một số chuyên gia, tiên liệu của nhà từ thiện đại gia Bill Gates có một số trung tâm khoa học, nhưng nhiều thách thức còn tại phía trước không thể xem nhẹ.

Mẹ thiên nhiên giao cho tuyến ức nhiệm vụ quan trọng, xong việc cho được Thảnh thơi thơ túi rượu bầu... Mới đây thôi tạo vật lại “tặng” cho con người virút HIV hàng hiệu mới toanh. Thật trớ trêu, lần này tuyến ức nghỉ hưu quá sớm!

GS.BS. NGUYỄN CHẤN HÙNG

Những phát minh độc nhất vô nhị

Robot khâu vết thương:

Phat-minh-cong-nghe-doc-nhat-vo-nhi-1-Phau-thuat-Robot

Lần đầu tiên, một robot có thể khâu vết thương tại mô mềm thành công trong suốt 1 cuộc phẫu thuật thử nghiệm. Chiếc máy này được gọi là Robot tự động mô mềm thông minh (STAR) do Đại học John Hopkins tạo ra. Nó sử dụng một hệ thống hình ảnh 3D và các cảm ứng sắp tia hồng ngoại để khâu cơ phức tạp và trơn láng tại ruột.

Đồng hồ mặt trời với bóng râm nở hoa:

Phat-minh-cong-nghe-doc-nhat-vo-nhi-2-Dong-ho-mat-troi-do-bong-no-hoa

Khi mặt trời di chuyển trên bầu trời, những cái bóng từ chiếc đồng hồ mặt trời có hình quạt được in 3D sẽ tạo ra chuyển động của một bông hoa đang nở to. Đây là thiết kế của Prescription hiện đang trưng bày ở Amsterdam, Hà Lan.

Điện thoại thông minh 3D có thể uốn cong:

Phat-minh-cong-nghe-doc-nhat-vo-nhi-3-Dien-thoai-thong-minh-co-the-uon-cong

chiếc smartphone này được gọi là HoloFlex có thân điện thoại mềm dẻo với màn hình holographic 3D. Nó được các nhà sáng chế tạo ra trong phòng thí nghiệm tại Đại học Queensland, Australia. Màn hình có 1 lớp các mắt kính nhỏ xíu để phân tán ánh sáng giúp người xem hình ảnh 3D.

Ô tô cáp trong suốt

Phat-minh-cong-nghe-doc-nhat-vo-nhi-4-Giao-thong-trong-suot

Ô tô cáp trong suốt, bê-tông phát sáng và 1 chiếc ô tô bay qua các tòa cao ốc sẽ ra thị trường vào năm 2018. Skyline gồm các ô tô cáp trong suốt do các kiến trúc sư của Marks Barfield và Davis Brody Bond sẽ nối liền bến tàu hải quân Navy Pier với khu địa chỉ Chicago.

LiLy

(theo DNews)

Bệnh viện Xanh Pôn: mổ nội soi 1 lỗ thành thường quy

PGS. TS Trần Ngọc Sơn, Phó Giám đốc Bệnh viện Xanh Pôn đã bàn luận với các đồng nghiệp như vậy, ngay sau ca mổ thị phạm trước hết tại bệnh viện về chiều ngày mùng 10/5. PGS Sơn đã trực tiếp mổ cho cháu bé 18 tháng tuổi, bị nang ống mật chủ bẩm sinh, bằng phương pháp phẫu thuật nội soi chỉ mở chỉ có một lỗ tại rốn.

“Có rất ít trường hợp trong lịch sử phẫu thuật ứng dụng, mà ích lợi của 1 kĩ thuật đã phát triển thành phổ biến hiển nhiên chỉ trong một thời gian rất ngắn như vậy”. – Dubois (1992) đã mượn câu nói ấy của Alfred Cushieri để ca ngợi thành tựu vĩ đại của phẫu thật nội soi.

Năm 1985, Muho đã mở đường cho ngành nghề phẫu thuật nội soi bằng một ca mổ cắt túi mật. Nhưng cha đẻ của phẫu thuật nội soi lại là Gs Philippe Muret, khi ông mô tả kĩ thuật cắt túi mật nội soi tương đối hoàn thiện, sau ca mổ năm 1987 ở Bệnh viện Lyon (Pháp).

Dựa trên nền tảng mà Muret mô tả, một ca mổ nội soi kinh điển đòi hỏi phẫu thuật viên phải mở ít nhất 3 lỗ để đưa dụng cụ vào trường mổ. Làm thế nào để giảm được số lỗ mổ, giảm sang chấn phẫu thuật, giảm biến chứng, rút ngắn thời gian nằm viện? Câu trả lời chính là cuộc đua đổi mới dụng cụ, thay mới kĩ thuật, mà phương pháp phẫu thuật nội soi 1 lỗ được coi là minh chứng rõ nhất cho điều này.

Trường hợp phẫu thuật nội soi một lỗ cũng là ca cắt túi mật, được báo cáo trước nhất về năm 1997, bởi tác giả Navarra và cộng sự. Ngay sau đó, phương pháp này được phổ biến rộng rãi trên toàn thế giới, trở nên phương pháp phẫu thuật xâm lấn thấp nhất ưu thích của cả bác sĩ cũng như người bệnh.

 

 

Trên thế giới, phẫu thuật nội một lỗ đã được áp dụng cho người lớn, với hàng nghìn mặt bệnh ở nhiều cơ quan khắp cơ thế: - Phẫu thuật sọ não, đầu – mặt – cổ: Ngoài vết mổ trực tiếp, có thể đi qua ngách mũi – miệng. - Phẫu thuật lồng ngực. - Phẫu thuật ổ bụng: Phẫu thuật viên có thể chọn vết mổ ở rốn, hậu môn, âm đạo. Các tạng cho phép thực hiện kĩ thuật như tú mật, dạ dày, đại tràng, tử cung phần phụ, buồng trứng, hệ tiết niệu, tuyến thượng thận. - Phẫu thuật khớp. Do nhiều nhân tố khách quan, phẫu thuật nội soi 1 lỗ ở trẻ em rất khó khăn, nên kĩ thuật này phát triển chậm, sau hai thập kỉ đã thực sự lùi lại phía sau so với người lớn.

Với bệnh lí nang ống mật chủ, phẫu thuật nội soi 1 lỗ sẽ là 1 thách đố với bất cứ phẫu thuật viên tầm cỡ chuyên gia tại mức nào. Bởi vậy, mà ở toàn bộ các nước, nang ống mật chủ ví dụ được phát hiện tại trẻ nhỏ, thì duy nhất một lựa chọn duy nhất là mổ phanh.

Năm 2009, Gs Diao M và cộng sự lần trước nhất thực hiện ca phẫu thuật nội soi một lỗ cho bệnh nhi nang ống mật chủ, ở Bệnh viện Nhi khoa Bắc Kinh (Trung Quốc). Từ đó tới năm 2012, Gs Diao cũng chỉ dám mổ cho 19 cháu bé, trong số đó có 2 bệnh nhân phải chuyển mổ mở, 1 bệnh nhân bị rò mật sau 10 ngày. Đến nay, tổng số bệnh nhi nang ống mật chủ được Gs Diao và cộng sự mổ theo phương pháp một lỗ về khoảng 200 trường hợp.

Ở Việt Nam, PGS. TS. Trần Ngọc Sơn bắt đầu mổ nang ống mật chủ theo phương pháp một lỗ cho bệnh nhi từ năm 2012, ở mọi lứa tuổi, tổng số bệnh nhi được mổ tới nay khoảng hơn 200. Với những thành công thu được, PGS Sơn đã có những công trình nghiên cứu khoa học báo cáo ở nhiều hội nghị quốc tế, chia sẻ kinh nghiệm phẫu thuật với nhiều chuyên gia bạn bè trên thế giới. Tuy nhiên, ngoài bệnh viện ở Bắc Kinh và Việt Nam, thì các bệnh viện khác trên thế giới cúng chưa đủ khả năng triển khai kĩ thuật.

Phẫu thuật nội soi một lỗ cho bệnh lí nang ống mật chủ tại trẻ em là khát vọng chinh phục kĩ thuật cao của Bệnh viện Saint Paul. PGs – Ts Trần Ngọc Sơn đã quyết tâm triển khai phẫu thuật nội soi một lỗ để phát triển thành thường quy, trong đó có bệnh lí rất khó là nang ổng mật chủ tại trẻ em.

 

BS. Trần Văn Phúc